EPLEGAL REINFORCES ITS POSITION IN THE GLOBAL OIL & GAS AND ENERGY INDUSTRY

EPLegal is proud to have contributed to the Chambers Global Practice Guides: Oil, Gas and the Transition to Renewables 2025 – a prestigious international publication providing comparative legal insights from top-ranked law firms worldwide.

In the Vietnam section, EPLegal’s lawyers provide comprehensive insights into:
🔹 The ownership and regulatory structure of hydrocarbons under the 2022 Petroleum Law and guiding decrees
🔹 Private investment in oil & gas (Upstream, Midstream & Downstream): covering production sharing contracts (PSCs), fiscal terms, contractors’ rights and obligations, as well as licensing, transportation, processing, distribution and related legal requirements
🔹 Foreign investment regulations and incentives in the oil & gas and energy sectors
🔹 Environmental, Health & Safety (EHS) obligations in oil & gas and energy projects
🔹 Vietnam’s energy transition trends towards 2030–2050, focusing on LNG, hydrogen and renewable energy

💡 Combining deep knowledge of Vietnamese law with extensive transactional and dispute resolution experience, EPLegal supports clients in oil & gas, renewable energy and international arbitration – helping them optimize legal strategies and seize sustainable investment opportunities.

📖 Read the full official report on Chambers: Oil, Gas and the Transition to Renewables 2025 – Vietnam | Global Practice Guides | Chambers and Partners

📩 Contact EPLegal for tailored legal advice:
🌐 eplegal.com | ✉️ info@eplegal.com

#EPLegal #ChambersGlobal #OilAndGas #EnergyTransition #Renewables #VietnamLaw AnnieNgo #LegalServices

TÁC ĐỘNG TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN NGÀNH DẦU KHÍ CỦA ANH

Ngành dầu khí của Anh đang phải vật lộn với cú sốc kép mang tên “đại dịch Covid-19” khiến cho nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề khi giá dầu liên tục lao dốc mạnh.

Cú sốc đối với ngành dầu khí của Anh

Ngành dầu khí là lĩnh vực chiến lược, hiện vẫn đang chi phối gần như toàn bộ mọi hoạt động kinh tế – xã hội của nước Anh, có ảnh hưởng to lớn đến vấn đề an ninh năng lượng thế giới. 

Tuy nhiên, dưới những tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, ngành khai thác dầu khí vùng Biển Bắc (ngành dầu khí tại Anh) này đã chịu những ảnh hưởng lớn cũng như có thể kéo dài. Khi nhu cầu dầu toàn cầu năm 2020 giảm kỷ lục khoảng 1,1 triệu thùng/ngày; cùng với đó thị trường dầu khí không ổn định khi giá dầu liên tục sụt giảm. Có những thời điểm giá dầu Brent giảm “sốc”, chỉ còn dao động quanh mốc 24 – 25 USD/thùng và liên tục duy trì tốc độ giảm 7 – 8%/ngày khi cho giá dầu thô thế giới nói chung và nước Anh nói riêng có nguy cơ giảm xuống mức dưới 20 USD/thùng. 

Điều này xảy ra vào thời điểm thị trường toàn cầu vừa trải qua giai đoạn bất ổn sau những nỗ lực không thành công của nhóm OPEC+ (Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ) nhằm cắt giảm sản lượng do sự mất cân bằng ngày càng tăng giữa cung và cầu thế giới. 

Chính điều này đã khiến ngành dầu khí của Anh đang trong giai đoạn khó khăn nhất. Và khác với các cuộc khủng hoảng trước đó, cuộc khủng hoảng dầu khí hiện nay đang từ đồng thời hai phía cung và cầu. Cầu sụt giảm nhanh và cung trên thị trường lại dư thừa, thậm chí có nguy cơ bùng nổ khi cuộc chiến dầu khí xảy ra. Và cũng chính vì vậy, càng làm những khó khăn của ngành công nghiệp khai thác dầu tại Anh Quốc gia tăng.

Những tác động nổi bật từ đại dịch Covid-19 đến ngành dầu khí tại Anh

Ngành công nghiệp dầu khí – lĩnh vực vốn phụ thuộc vào sự thăng giáng của các chu kỳ kinh tế đã phải đối mặt với những sóng gió thị trường ngay cả trước khi đại dịch Covid-19 bắt đầu. Tuy nhiên, đại dịch đã đẩy nhanh quá trình khủng hoảng trên và khiến nó ngày càng trầm trọng chỉ trong vài tháng.

Tuy nhiên, sự khởi sắc của ngành kinh tế toàn cầu nói chung và ngành dầu khí tại Anh nói riêng đã đưa mọi thứ quay trở lại quỹ đạo ổn định vào năm 2021 – thời điểm việc tiêm chủng vaccine Covid-19 đã phổ biến với từng quốc gia, đặc biệt ở Anh khi số lượng công dân và đồng bào người Việt tiêm chủng mũi thứ 2 đạt tỷ lệ cao. 

Cùng với đó là sự hồi phục của ngành công nghiệp dầu khí kể từ khi giảm mức 25% trong tháng 4/2020, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức trước đại dịch Covid-19 khoảng 4-7%. Thế nhưng những hậu quả mà đại dịch Covid-19 gây ra vẫn tác động tới Anh Quốc khi ngành dầu khí của Anh đã sa thải khoảng 14% nhân viên cố định vào năm 2020 và 70% số đó sẽ không thể quay trở lại làm việc ngay cả khi dịch bệnh đã được kiểm soát hoàn toàn vào cuối năm 2021. Những công việc chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó là thăm dò, thẩm định và phát triển các lĩnh vực mới của ngành dầu khí. Các bà con người Việt hiện đang làm trong những công việc trên cần lưu ý và chuẩn bị cho mình những hướng đi mới.

nganh-dau-khi-cua-anh

Cũng theo nghiên cứu mới nhất của The Oil & Gas UK – hiệp hội thương mại hàng đầu cho ngành dầu khí của Anh cho thấy: năm 2019 giá dầu là 60 USD/thùng, tổng sản lượng tích lũy dầu thô đến năm 2050 có thể lên tới 12 tỷ thùng dầu tương đương 90 tỷ bảng theo tỷ giá hiện tại. Tuy nhiên, sự đình trệ của ngành dầu khí từ ảnh hưởng dịch bệnh đã khiến tổng sản lượng tích lũy chỉ đạt 35,4 tỷ bảng trong khi đó chi phí ngừng hoạt động là 37 tỷ bảng. Cùng với đó là sự ngừng hoạt động của hơn 500 công ty trong ngành khai khoáng dầu này. Điều này phản ánh những hệ lụy nghiêm trọng mà Covid-19 đã gây ra cho ngành công nghiệp dầu khí vùng Biển Bắc.

Cho dù đến giữa năm 2020, giá dầu thô tại Anh đã có 4 lần tăng giá, tuy nhiên, điều này vẫn không khiến ngành dầu khí Biển Bắc hồi phục được như trước.

Hướng đi nào dành cho ngành dầu khí ở nước Anh?

Từ câu chuyện khủng hoảng ngành dầu khí của Anh bởi dịch Covid-19, thiết nghĩ, đã đến lúc Chính phủ cần phải có những giải pháp khẩn cấp, quyết liệt hơn, cụ thể hơn trong việc hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc mà ngành dầu khí đang phải đối diện.

Một trong những khó khăn của ngành công nghiệp này là sự thiếu vốn nghiêm trọng, Chính phủ nên xem xét vấn đề ưu đãi thuế để kích thích đầu tư cũng như nghiên cứu việc đẩy mạnh tín dụng thuế để mở rộng lĩnh vực dầu khí này.

nganh-dau-khi-cua-anh

Đây cũng là thời điểm vàng để các doanh nghiệp ngành dầu khí của Anh thay đổi hoạt động, phát triển theo hướng bền vững hơn trong đó hạn chế việc sử dụng đốt nguyên liệu thô và khởi xướng các chương trình đầu tư để sử dụng nhiều điện hơn khí đốt cho các công trình dầu khí ngoài khơi. Ngoài ra lĩnh vực dầu khí ở Anh cần thay thế việc sử dụng dầu diesel và khí tự nhiên để sản xuất điện bằng các nguồn điện tái tạo.

Để được tư vấn thêm thông tin liên quan đến lĩnh vực dầu khí tại Anh, hãy liên lạc với chúng tôi qua số hotline 84-28.38232.648 hoặc truy cập trang web https://eplegal.vn/vi/ để tham khảo thêm các thông tin về luật dầu khí.

Nguồn tham khảo: How will coronavirus affect the UK’s oil and gas industry?

CHI PHÍ VÀ TÍNH LÃI SUẤT TRONG VỤ KIỆN TRỌNG TÀI: GÓC NHÌN CỦA LUẬT ANH

Nguyễn Trung Nam (Tony) – Luật sư sáng lập EPLegal

Bài viết này giải thích ngắn gọn về các nguyên tắc phân bổ chi phí trong vụ kiện trọng tài theo góc nhìn của pháp luật Anh và pháp luật Việt Nam, điều này hỗ trợ Hội đồng trọng tài và các bên xác định hoặc đệ trình phân bổ chi phí trong phạm vi của những hệ thống pháp luật tương ứng. Bài viết cũng giới thiệu sơ bộ về phương thức tính lãi trong vụ kiện trọng tài dưới góc độ so sánh.

  1. Những chi phí nào sẽ được phân bổ?

Theo Điều 59 của Arbitration Act 1996, những chi phí được phân bổ bao gồm: (a) phí và chi phí của các trọng tài viên, (b) phí và chi phí của bất kỳ tổ chức trọng tài liên quan, và (c) chi phí pháp lý hoặc chi phí khác của các bên.

Trên thực tế, những chi phí sau đã được xác lập rõ ràng trong trọng tài quốc tế:

(a)  Chi phí của Hội đồng trọng tài (“HĐTT”) và, trong tổ chức trọng tài, chi phí phải trả cho bên điều hành thủ tục tố tụng trọng tài (thường được tổ chức trọng tài ấn định trước);

(b)  Những chi phí hợp lý cho việc đi lại và các chi phí khác phát sinh của các trọng tài viên;

(c)  Phí tư vấn của chuyên gia và các chi phí hỗ trợ khác theo yêu cầu của HĐTT (ví dụ: phí dịch thuật, báo cáo tòa án)

(d)  Những chi phí hợp lý cho việc đi lại hoặc chi phí khác của những người làm chứng đã được HĐTT phê duyệt;

(e)  Chi phí pháp lý hợp lý và những chi phí phát sinh của các bên liên quan đến vụ kiện trọng tài;

(f)  Bất kỳ phí hoặc chi phí nào của cơ quan chỉ định theo yêu cầu của các bên.

Đã có những thảo luận về việc chi phí chung của các bên (ví dụ như là luật sư nội bộ và nhân chứng) tham gia vào quá trình trọng tài có được tính là chi phí trong trọng tài hay không, nhưng việc phân bổ các chi phí này hiếm khi được các bên đệ trình lên HĐTT. Thông thường, những chi phí pháp lý và phí chuyên môn khác mà các bên đã chi (ví dụ như chi phí liên quan đến chậm trễ, tư vấn định lượng và chuyên gia pháp lý) sẽ được chú trọng hơn, vì trong phần lớn của các trường hợp, các bên sẽ không đồng ý về điều này khi việc tính toán các chi phí có liên quan tới nguyên tắc phân bổ chi phí.

Luật Trọng Tài Thương Mại (“LTTTM”) chỉ đưa ra một định nghĩa khá hạn chế cho chi phí trọng tài (nhưng không nhất thiết là chi phí) gồm những nội dung sau:

(a) Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho trọng tài viên;

(b) Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của HĐTT;

(c) Phí hành chính;

(d)  Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp;

(e)  Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài.

Những phí pháp lý và phí tư vấn chuyên môn khác (chẳng hạn như chuyên gia kỹ thuật/pháp lý) mà các bên chỉ định tham gia (nhưng không nhất thiết theo yêu cầu của HĐTT) thường chiếm phần lớn nhất trong chi phí trọng tài quốc tế. Tuy nhiên, LTTTM không đề cập tới các chi phí này. Đây là một lỗ hổng lớn trong LTTTM cần được hoàn chỉnh để phát triển trong tương lai.

Mặc dù pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam và trọng tài quốc tế có độ vênh nhất định, nhưng tại Trung Tâm Trọng Tài Việt Nam (“VIAC”) – tổ chức trọng tài lớn nhất tại Việt Nam, các trọng tài viên của VIAC thường chấp nhận rằng nguyên tắc về phí trọng tài theo quy định của LTTTM cũng có thể áp dụng đối với phí pháp lý và phí chuyên gia được các bên chỉ định.

  1. Nguyên tắc chung về phân bổ chi phí

Trong luật trọng tài Anh, HĐTT có toàn quyền quyết định về chi phí theo cách mà họ thấy phù hợp. Các chi phí thường được xác định dựa trên cơ sở tiêu chuẩn, trừ khi có quyết định khác. “Cơ sở tiêu chuẩn” này được Civil Procedural Rules ở Anh (trương đương với Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam) diễn giải như sau:

(a)  HĐTT chỉ cho phép các chi phí tương xứng với các vấn đề tranh chấp. Các chi phí không cân xứng với khoản tranh chấp có thể bị gạt bỏ hoặc điều chỉnh giảm ngay cả khi những chi phí đấy là các chi phí phát sinh một cách hợp lý hoặc cần thiết; và

(b)  Khi có bất kỳ nghi ngờ nào về việc liệu chi phí có phát sinh một cách hợp lý và tương xứng hoặc số tiền yêu cầu có hợp lý và tương xứng với vụ việc hay không, HĐTT sẽ xem xét theo hướng có lợi cho bên phải thanh toán.

  1. Ngoại lệ

Trong những trường hợp sau HĐTT có thể không áp dụng nguyên tắc chung nói trên mà có thể áp dụng theo cơ sở bồi hoàn để phân bổ chi phí:

  • Nguyên đơn phóng đại rất lớn số tiền mình yêu cầu;
  • Hành xử không thể chấp nhận được của một trong các bên;
  • Bên thắng kiện bị thiệt hại do một vấn đề khác rất tốn thời gian;
  • Đề nghị được niêm phong hay thường được gọi là “Part 36 offer”. Điều này có nghĩa là nếu bên thắng kiện từ chối đề nghị bằng hoặc nhiều hơn khoản tiền mà họ được trao, thì mọi chi phí phát sinh từ thời điểm đề nghị được đưa ra trở đi sẽ do Nguyên đơn chịu.

Trong trường hợp chi phí được đánh giá trên cơ sở bồi hoàn, HĐTT sẽ không xem xét yếu tố cân xứng mà chỉ kiểm tra tính hợp lý. Ngoài ra, khi có bất kỳ nghi ngờ nào về liệu chi phí đã phát sinh một cách hợp lý hay không, HĐTT sẽ xem xét theo hướng có lợi cho bên nhận thanh toán.

Trong cả hai trường hợp trên, HĐTT sẽ không cho phép chi phí phát sinh bất hợp lý hoặc số tiền không hợp lý.

  1. Trường hợp các bên có thỏa thuận trước về chi phí?

Thông thường, HĐTT sẽ ưu tiên thực hiện theo thỏa thuận của các bên để phân bổ chi phí, nhưng HĐTT sẽ đối chiếu với luật xem có quy định bắt buộc nào giới hạn thỏa thuận các bên không. Ví dụ, theo Luật Anh, các bên chỉ có thể thỏa thuận tự chịu chi phí của mình sau khi phát sinh tranh chấp. Nếu các bên thỏa thuận ngay trong hợp đồng ban đầu là các bên tự chịu chi phí của mình thì thỏa thuận này sẽ không có hiệu lực.

Việc chi phí phân bổ trong vụ kiện trọng tài là vấn đề về thủ tục (trái với vấn đề về nội dung) và sẽ được điều chỉnh bởi luật của địa điểm giải quyết tranh chấp. Nếu đây là một vấn đề về nội dung, thì luật điều chỉnh hợp đồng sẽ được áp dụng để xác đinh các vấn đề chi phí. Đối với các vụ kiện SIAC gần đây với một hoặc các bên liên quan là người Việt Nam, HĐTT có xu hướng áp dụng các nguyên tắc chung về phân bổ chi phí trong trọng tài quốc tế mặc dù luật Việt Nam có thể được coi là luật điều chỉnh nội dung hợp đồng.

Trong vụ kiện ICC được xét xử tại Việt Nam gần đây, Trọng tài viên duy nhất vẫn chấp nhận dẫn chiếu tới án lệ nước ngoài để phân bổ chi phí theo đề xuất của một bên mặc dù địa điểm giải quyết tranh chấp là Việt Nam. LTTTM quy định HĐTT có quyền rất lớn trong việc phân bổ chi phí, do đó, HĐTT lập luận dựa trên bất kỳ nguyên tắc hợp lý nào, trừ khi luật của nơi xét xử có điều khoản bắt buộc để cản trở việc đấy.

  1. Lãi suất

Việc xác định lãi suất là vấn đề về nội dung hay thủ tục đang được xem xét. Về nguyên tắc, một khi điều khoản về tiền lãi được quy định rõ ràng trong hợp đồng, thì điều khoản đó sẽ trở thành quyền và nghĩa vụ của cả hai bên, do đó, điều khoản đó sẽ được điều chỉnh theo luật nội dung của hợp đồng và các hạn chế bắt buộc có thể áp dụng cho việc tính lãi.

Theo luật của Anh, các bên có quyền tự do thỏa thuận về quyền hạn của trọng tài liên quan đến việc phán quyết về lãi suất, bao gồm cả việc áp dụng lãi suất đơn hay lãi kép.

Theo luật pháp Việt Nam, lãi suất có thể bị giới hạn bởi quy định pháp luật.5 Trong một vụ kiện SIAC, hợp đồng quy định bên vi phạm có nghĩa vụ trả lãi chậm trả là 21%, trong đó, luật điều chỉnh hợp của đồng là luật Việt Nam. HĐTT cho rằng thỏa thuận này không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự (luật của nơi xét xử). Bộ luật dân sự không cho phép lãi phạt vượt quá 20%, do đó, HĐTT đã điều chỉnh lãi chậm trả về mức 20% cho phù hợp.

  1. Kết luận

Những nguyên tắc về chi phí trong trọng tài quốc tế là những nguyên tắc khá đơn giản và hợp lý. Vì sẽ có chi phí phát sinh trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, những khoản phí đó phải được phân bổ giữa các bên và có thể thu hồi được trên cơ sở hợp lý. Nói chung, bên thua kiện sẽ chịu chi phí trọng tài và chi phí pháp lý (và các chi phí liên quan khác) cho bên thắng kiện. Tuy nhiên, Tòa án có quyền lực rộng, mặc dù dựa trên cơ sở chính đáng, để rời khỏi nguyên tắc chi phí này và phân bổ chi phí như một công cụ để phản ánh các bên tiến hành tố tụng trọng tài. Liên quan đến lãi suất, đó là vấn đề của luật nội dung và mặc dù các bên được tự do thỏa thuận về lãi, những hạn chế theo luật nội dung (nếu có) sẽ hạn chế quyền tự chủ của các bên.