MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA QUY TẮC TỐ TỤNG TRỌNG TÀI VIAC 2026

ThS Phan Trọng Đạt – nguyên Phó Tổng thư ký VIAC, Partner EP Legal
TS. Luật sư Nguyễn Trung Nam, TTV VIAC, Founding Partner EP Legal
Luật sư Trần Thu Thảo, EP Legal
ThS Nguyễn Đức Tài, EP Legal

Quy tắc tố tụng trọng tài 2026 của VIAC (sau đây gọi là Quy tắc 2026) đã có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026. Trong bối cảnh khung pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam chưa có nhiều thay đổi, việc VIAC ban hành Quy tắc 2026 với rất nhiều điểm mới, tiến bộ và tương thích với các quy định của các bộ Quy tắc tố tụng trọng tài của các tổ chức trọng tài quốc tế hàng đầu như ICC, SIAC, HKIAC… cho thấy vai trò tiên phong của VIAC trong việc cập nhật và đổi mới để tăng tính hiệu quả của các tranh chấp được giải quyết tại VIAC nói riêng và phương thức trọng tài nói chung.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài viết ngắn về một số điểm mới của Quy tắc 2026 được lựa chọn và phân tích theo lăng kính ứng dụng thực tiễn. Chúng tôi tự hào về sự am hiểu về Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC để hỗ trợ khách hàng tối ưu và về sự đồng hành với VIAC trong nhiều sự kiện khác nhau.

1. Tranh chấp chuỗi
Tranh chấp đa bên, đa hợp đồng là nhóm thay đổi có giá trị thực tiễn cao của Quy tắc 2026, đặc biệt đối với các tranh chấp dự án hạ tầng, năng lượng, xây dựng, mua bán – sáp nhập doanh nghiệp và chuỗi giao dịch tài chính. Các lĩnh vực nêu trên tiềm ẩn tranh chấp trải rộng trên nhiều hợp đồng và nhiều chủ thể.
Mặc dù Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC 2017 (sau đây gọi là Quy tắc 2017) cũng đã có quy định về tranh chấp từ nhiều hợp đồng và gộp các vụ tranh chấp, nhưng khung quy định còn chung chung, thiếu tiêu chí, dẫn tới khó áp dụng. Quy tắc 2026 nay chi tiết hóa điều kiện, chuẩn hóa quy trình và bổ sung một chế định hoàn toàn mới.
a. Quy định mang tính cập nhật, cải tiến về tranh chấp chuỗi
Điều 6 Quy tắc 2017 cho phép các yêu cầu khởi kiện phát sinh từ hoặc liên quan đến nhiều hơn một hợp đồng có thể được gộp trong một Đơn khởi kiện để giải quyết trong một vụ tranh chấp, cho dù các yêu cầu đó được lập trên cơ sở một hoặc nhiều thỏa thuận trọng tài. Quy định này dù công nhận cơ chế trên về mặt nguyên tắc nhưng để lại nhiều khoảng trống vì quá chung chung.
Kế thừa Quy tắc 2017, Quy tắc 2026 đã phát triển nguyên tắc này thành một cơ chế khả thi trong vận hành hơn. Cụ thể, Điều 6 trao cho Nguyên đơn quyền lựa chọn:
(i) Nộp từng Đơn khởi kiện riêng tương ứng với mỗi thỏa thuận trọng tài (điểm a khoản 1); hoặc
(ii) Nộp một Đơn khởi kiện duy nhất kèm yêu cầu gộp và nêu rõ yêu cầu nào phát sinh từ thỏa thuận trọng tài nào (điểm b khoản 1). Trường hợp này, Chủ tịch Trung tâm trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Nguyên đơn nộp đủ phí trọng tài sẽ quyết định gộp hay không gộp trên cơ sở ba điều kiện tại khoản 2. Nếu Chủ tịch không chấp nhận (một phần hoặc toàn bộ), Trung tâm yêu cầu Nguyên đơn sửa đổi Đơn khởi kiện, và quyền yêu cầu gộp các vụ tranh chấp theo Điều 17 vẫn được bảo lưu (khoản 4).
Cụm từ “cùng một giao dịch hoặc chuỗi giao dịch liên quan” tại điểm a khoản 2 chính là cánh cửa pháp lý cho tranh chấp chuỗi. Đây là một cải tiến phù hợp và kịp thời với thực tiễn thương mại hiện đại nơi một thương vụ được cấu trúc thành nhiều hợp đồng liên kết (hợp đồng khung và các hợp đồng thực hiện; hợp đồng thầu chính và các thầu phụ; chuỗi cung ứng; cấu trúc tài trợ nhiều hợp đồng tín dụng).
Đồng thời, điều kiện “các thỏa thuận trọng tài tương thích với nhau” tại điểm c khoản 2 là điểm bổ sung trực tiếp cho khoảng trống của Quy tắc 2017. Tuy nhiên, việc Quy tắc vẫn không giải thích khái niệm này có thể làm phát sinh những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng. Trong thực tiễn, các thỏa thuận trọng tài thường được coi là tương thích khi không mâu thuẫn về các yếu tố cơ bản như địa điểm trọng tài, ngôn ngữ, luật áp dụng, số lượng và phương thức chỉ định Trọng tài viên. Bên yêu cầu gộp cần chủ động chứng minh sự tương thích giữa các thỏa thuận trọng tài.

2. Gộp các vụ tranh chấp
a. Các điểm mới về gộp vụ tranh chấp
Điều 15 Quy tắc 2017 chỉ thiết lập cơ chế gộp vụ tranh chấp chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Nếu không có thỏa thuận, VIAC không có cơ sở để chủ động quyết định việc gộp. Mặc dù Trung tâm được quyền quyết định sau khi “cân nhắc các yếu tố có liên quan”, Quy tắc không quy định cụ thể các yếu tố này, đồng thời mặc định việc gộp sẽ được thực hiện vào vụ trọng tài có tố tụng trọng tài bắt đầu đầu tiên. Điều 15 cũng chưa đề cập đến hồ sơ yêu cầu gộp, cơ chế xử lý phí trọng tài hay ảnh hưởng của việc gộp đối với việc thành lập Hội đồng Trọng tài.
Trong khi đó, Điều 17 Quy tắc 2026 quy định chi tiết cả về căn cứ và thủ tục gộp vụ tranh chấp. Đáng chú ý, điểm b và điểm c khoản 1 cho phép gộp ngay cả khi không có sự thỏa thuận của các bên, nếu các tranh chấp phát sinh từ cùng một thỏa thuận trọng tài hoặc từ các thỏa thuận trọng tài tương thích trong cùng một giao dịch hoặc chuỗi giao dịch. Quy định này thể hiện sự chuyển dịch từ cơ chế phụ thuộc vào sự đồng thuận sang cơ chế trao cho VIAC quyền chủ động quyết định trong những trường hợp phù hợp.
b. Ranh giới giữa Điều 6 và Điều 17 Quy tắc 2026.
Điều 6.2 và Điều 17.1(c) đều sử dụng tiêu chí về các thỏa thuận trọng tài tương thích và tranh chấp phát sinh từ cùng một giao dịch hoặc chuỗi giao dịch, đồng thời đều trao thẩm quyền quyết định cho Chủ tịch VIAC.
Về vấn đề này, ta cần phân biệt, xác định ranh giới giữa hai điều khoản nằm ở bối cảnh tố tụng, thay vì nội dung tiêu chí. Cụ thể, Điều 6 điều chỉnh việc xác định phạm vi tố tụng ngay từ giai đoạn khởi kiện, trong khi Điều 17 áp dụng đối với các vụ trọng tài đã được thụ lý. Điều 6.4 tiếp tục khẳng định sự phân biệt này khi quy định việc Chủ tịch VIAC từ chối yêu cầu theo Điều 6 không làm mất quyền yêu cầu gộp theo Điều 17.
Đồng thời, Điều 6 và Điều 17 được xây dựng theo hai cấu trúc pháp lý khác nhau. Điều 6.2 áp dụng cơ chế hội đủ điều kiện, theo đó cả ba tiêu chí đều phải được đáp ứng. Trong khi đó, Điều 17.1 quy định các căn cứ thay thế, chỉ cần thuộc một trong các trường hợp được liệt kê là có thể xem xét việc gộp vụ tranh chấp.

3. Bổ sung bên tranh chấp
Điều 18 Quy tắc 2026 đã đưa ra một cơ chế mới là “bổ sung bên tranh chấp”. Bổ sung bên tranh chấp được hiểu là việc yêu cầu bổ sung một hoặc nhiều bên thứ ba ngoài các Nguyên đơn và Bị đơn đã được xác định, để họ trở thành một hoặc nhiều Nguyên đơn, một hoặc nhiều Bị đơn tham gia vào vụ tranh chấp. Điều 18 Quy tắc 2026 được thiết kế để bảo đảm hai vấn đề tố tụng quan trọng khi bổ sung bên tranh chấp là: (1) sự đồng ý cho việc bổ sung và (2) quyền bổ nhiệm trọng tài viên của bên được bổ sung.
3.1. Sự đồng ý cho việc bổ sung
Về sự đồng ý cho việc bổ sung, có hai trường hợp thể hiện sự đồng ý:
Tất cả các bên, bao gồm cả bên được bổ sung, đồng ý bằng văn bản cho phép bên được bổ sung tham gia tố tụng trọng tài; hoặc
Bên được bổ sung bị ràng buộc bởi thỏa thuận trọng tài mà Nguyên đơn hoặc Bị đơn đã viện dẫn trong vụ tranh chấp hiện có.
a. Trường hợp không có thỏa thuận trọng tài ràng buộc bên được bổ sung
Một nguyên tắc được các bộ quy tắc trọng tài hàng đầu áp dụng là trọng tài chỉ có thể được tiến hành giữa các bên đã đồng ý giải quyết tranh chấp của họ bằng trọng tài, bằng một thỏa thuận trọng tài. Có những chỉ trích cho rằng cơ chế bổ sung bên tranh chấp là một sự vi phạm đối với sự đồng thuận của các bên. Người ta lập luận rằng, nhìn chung, thỏa thuận trọng tài chỉ ràng buộc các bên ký kết. Thỏa thuận trọng tài không chỉ là hệ quả đồng thuận của phương thức giải quyết tranh chấp, mà còn là một sự sắp xếp về quyền và nghĩa vụ của các bên, điều không thể tự động mở rộng sang bên thứ ba. Các cơ chế đa bên, chẳng hạn như bổ sung bên tranh chấp, sẽ xâm phạm đến sự đồng thuận của các bên giao kết hợp đồng. Tuy vậy, hầu hết các bộ quy tắc trọng tài hàng đầu vừa cho phép bổ sung bên tranh chấp cũng là một bên trong thỏa thuận trọng tài, vừa cho phép bổ sung bên tranh chấp không là một bên trong thỏa thuận trọng tài nếu các bên đều đồng ý.
b. Trường hợp có thỏa thuận trọng tài ràng buộc bên được bổ sung
Khi xét phạm vi của thỏa thuận trọng tài đối với bên được bổ sung, các bộ quy tắc trọng tài thường không yêu cầu quá nghiêm ngặt về vấn đề này để cản trở việc bổ sung bên tranh chấp. Quy tắc 2026 cũng đi theo hướng quy định như vậy mặc dù không nêu rõ rằng chỉ cần đánh giá sơ bộ thỏa thuận trọng tài để quyết định bổ sung bên tranh chấp.
3.2. Quyền bổ nhiệm trọng tài viên của bên được bổ sung
Trong trường hợp yêu cầu được chấp nhận, bên nào không có cơ hội chọn hoặc yêu cầu Trung tâm chỉ định Trọng tài viên thì được coi là từ bỏ quyền này, nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên theo Điều 15 của Quy tắc VIAC 2026.
Nếu bên thứ ba đồng ý tham gia tố tụng trọng tài sau khi Hội đồng Trọng tài đã được thành lập, điều này đồng nghĩa với việc tranh chấp được tiến hành giải quyết trước Hội đồng Trọng tài mà họ đã không thể tham gia vào quá trình thành lập. Do đó, sự đồng ý bổ sung bên tranh chấp ở giai đoạn này cũng đồng thời được coi là việc bên đó từ bỏ quyền tham gia vào quy trình chỉ định trọng tài viên trên cơ sở bình đẳng.

4. Thủ tục rút gọn
Theo Điều 24 và Phụ lục II Quy tắc 2026, Thủ tục rút gọn là một quy trình tố tụng đặc biệt nhằm giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn so với Thủ tục thông thường. Điểm mới ở Quy tắc 2026 ở các quy định rất chi tiết và khả thi đối với các trường hợp Trung tâm chủ động quyết định áp dụng thủ tục rút gọn này.
Thủ tục này được áp dụng trong các trường hợp như các bên có thỏa thuận áp dụng, tổng giá trị tranh chấp không vượt quá mức giới hạn do Trung tâm ấn định và công bố tại trang thông tin điện tử chính thức của Trung tâm ở thời điểm nộp Đơn khởi kiện, hoặc khi các tình tiết của vụ việc phù hợp và Chủ tịch Trung tâm ra quyết định áp dụng sau khi tham vấn ý kiến các bên. Đối với các thỏa thuận trọng tài được xác lập sau ngày Quy tắc có hiệu lực, các bên được coi là đã đồng ý với việc áp dụng thủ tục này theo quyết định của Chủ tịch Trung tâm. Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên sẽ được tham vấn ý kiến trước khi thủ tục rút gọn được áp dụng.
Phụ lục II của Quy tắc 2026 quy định chi tiết quy trình tiến hành thủ tục này. Điều 1 Phụ lục II liệt kê hai điều khoản chung hướng tới việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp (khoản 2 và 3) và cả trường hợp không tiếp tục áp dụng thủ tục rút gọn mà quay trở lại áp dụng thủ tục thông thường (khoản 4). Điều 2 Phụ lục II quy định về số lượng Trọng tài viên và việc thành lập Hội đồng trọng tài trong thủ tục rút gọn. Số lượng trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài được mặc định là một trừ trường hợp các bên có thỏa thuận rằng Hội đồng trọng tài gồm ba Trọng tài viên. Thời hạn để chọn Trọng tài viên và thành lập Hội đồng trọng tài được rút ngắn. Thời hạn lập Phán quyết trọng tài cũng được rút ngắn (Điều 5 Phụ lục II).
Tuy nhiên, thách thức đặt ra trong trường hợp một bên (thường là Bị đơn) không đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn mặc dù vụ tranh chấp có trị giá tranh chấp hoặc các tình tiết liên quan đáp ứng quy định tại Điều 24 Quy tắc 2026 thì Trung tâm có thể ra quyết định áp dụng thủ tục này hay không. Chúng tôi cho rằng việc các bên đồng thuận giải quyết tranh chấp tại VIAC và áp dụng Quy tắc trọng tài của VIAC thể hiện sự thỏa thuận của các bên về việc Chủ tịch VIAC có thẩm quyền ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 24. Riêng trường hợp Bị đơn không tham gia tố tụng trọng tài theo thủ tục rút gọn nhưng sau đó yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lí do vụ trọng tài phải theo thủ tục thông thường thì theo chúng tôi, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài khả năng cao không được tòa án chấp nhận vì Bị đơn đã mất quyền phản đối. Nếu các bên không muốn áp dụng thủ tục rút gọn, các bên phải có thỏa thuận rõ ràng về việc không áp dụng này bằng văn bản – một lưu ý khi soạn thảo điều khoản trọng tài.

5. Trọng tài viên
Trọng tài hiệu quả nhờ Trọng tài viên hiệu quả (Arbitration is as good as Arbitrators) là câu nói quen thuộc. Vì thế, khi tư vấn cho khách hàng tham gia tố tụng trọng tài, công ty luật đặc biệt chú trọng vào việc chọn trọng tài viên cho khách hàng của mình. Quy tắc 2026 có hai điểm mới liên quan tới vấn đề này như sau:

1. Điểm mới thứ nhất: Tiêu chuẩn Trọng tài viên.

Cả Quy tắc 2026 và 2017 đều quy định Trọng tài viên phải đáp ứng tiêu chuẩn theo pháp luật trọng tài thương mại và của Quy tắc tương ứng. Điểm mới trong quy định của Quy tắc 2026 nằm ở khoản 2 Điều 11 “Người được chọn phải đáp ứng tiêu chuẩn Trọng tài viên theo quy định của pháp luật trọng tài và Phụ lục I của Quy tắc này”. Điều 2 Phụ lục I đưa ra tiêu chuẩn rõ ràng về ngôn ngữ như sau: “Trọng tài viên phải có cam kết bằng văn bản tự mình có đủ khả năng để giải quyết vụ tranh chấp bằng ngôn ngữ trọng tài một cách nhanh chóng và hiệu quả. Trong những trường hợp đặc biệt, người được chọn hoặc chỉ định làm Trọng tài viên phải cam kết bằng văn bản tự mình thu xếp biên, phiên dịch phù hợp.” Điều 3 Phụ lục I đưa ra tiêu chuẩn cụ thể đối với trọng tài viên ngoài danh sách Trọng tài viên của VIAC như sau: Đã tốt nghiệp đại học trong lĩnh vực chuyên môn cụ thể và có ít nhất 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn, hoặc đang là thành viên trở lên của Hiệp hội trọng tài quốc tế hoặc Viện trọng tài uy tín hoặc tổ chức tương đương với thâm niên tối thiểu 01 năm và có ít nhất 15 năm kinh nghiệm làm việc, hoặc tốt nghiệp bậc đại học, thạc sỹ hoặc tiến sỹ trong và ngoài nước với ngành đào tạo liên quan đến trọng tài quốc tế và có ít nhất 15 năm kinh nghiệm làm việc; và đã tham gia tối thiểu 05 vụ tranh chấp tại trọng tài quốc tế hoặc trong nước với tư cách Trọng tài viên và đã tham gia soạn thảo 03 phán quyết trọng tài. Các tiêu chuẩn cụ thể này không áp dụng nếu chọn/chỉ định trọng tài viên trong danh sách Trọng tài viên của VIAC. VIAC đưa ra quy định mới nêu trên xuất phát từ mong muốn nâng cao chất lượng của trọng tài viên phân xử các vụ kiện tại VIAC, nhằm bảo đảm chất lượng của tố tụng trọng tài và của phán quyết trọng tài. Các tiêu chuẩn này cao hơn quy định tương ứng trong Luật trọng tài thương mại 2010. Mặc dù ủng hộ mục đích của quy định mới này với tinh thần nâng cao chất lượng tố tụng trọng tài, tác giả lưu ý rằng sẽ có trường hợp một bên lựa trọng tài viên ngoài danh sách Trọng tài viên của VIAC nhưng không đáp ứng đủ tiêu chuẩn về số năm kinh nghiệm làm việc, số vụ tranh chấp tại trọng tài đã tham gia, hoặc số phán quyết trọng tài đã soạn thảo, bên chọn trọng tài viên này hoàn toàn có thể phản đối quy định của VIAC với lí do quy định này phân biệt đối xử giữa trọng tài viên trong danh sách và ngoài danh sách Trọng tài viên của VIAC. Điều này không phải không có cơ sở khi mà thực tế, các trọng tài viên danh sách Trọng tài viên của VIAC đa phần cũng phải bắt đầu vụ trọng tài đầu tiên sau khi vào danh sách này. Vấn đề này càng phức tạp hơn khi trọng tài viên được chọn/chỉ định là người nước ngoài, được một bên chọn vì tin tưởng rằng trọng tài viên đó là chuyên gia trong lĩnh vực các bên đang có tranh chấp mà VIAC hiện không có trọng tài viên có chuyên môn phù hợp.

2. Điểm mới thứ hai: Giới hạn trách nhiệm Trọng tài viên
Điều 44 Quy tắc 2026 là một điều mới, qui định về giới hạn trách nhiệm của nhiều chủ thể, trong đó có Trọng tài viên. Cụ thể như sau: {…} Trọng tài viên không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ hành vi hoặc thiếu sót do bất cẩn nào liên quan tới nội dung hoặc thủ tục ban hành các quyết định, phán quyết, văn bản khác hoặc bất kỳ sai sót nào về thủ tục trong toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài, ngoại trừ trường hợp có thể chứng minh rằng hành vi hoặc thiếu sót hoặc sai sót đó đã được thực hiện một cách gian dối, thiếu trung thực. Sau khi Phán quyết trọng tài, Quyết định công nhận hòa giải thành, Quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp đã được ban hành hoặc Phán quyết trọng tài đã được sửa chữa, giải thích, bổ sung hoặc hết thời hạn yêu cầu giải thích, sửa chữa, bổ sung Phán quyết trọng tài, các bên được coi là đã đồng ý rằng các Trọng tài viên {…} không có nghĩa vụ phải đưa ra bất kỳ tuyên bố, giải thích hay trả lời nào liên quan đến vụ tranh chấp. Trong mọi trường hợp, các bên từ bỏ quyền yêu cầu, đề nghị triệu tập, mời {…} Trọng tài viên tham gia với bất kỳ vai trò nào trong bất kỳ thủ tục pháp lý tại Trọng tài hoặc Tòa án, thủ tục hành chính hoặc bất kỳ thủ tục nào khác liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp luật có quy định khác. Bằng việc lựa chọn Trung tâm và/hoặc Quy tắc của Trung tâm để giải quyết tranh chấp, các bên được coi là đã đồng ý rằng quy định về giới hạn trách nhiệm theo Điều này là công bằng và hợp lý; và các bên được coi là đã từ bỏ mọi quyền khiếu nại hoặc yêu cầu bồi thường đối với Trọng tài viên {…}.
Quy định này là tiến bộ, tương tự như quy định của các tổ chức trọng tài quốc tế khác mặc dù pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam hiện hành chưa có qui định. Năm 2018, khi ban hành Quy tắc hòa giải của Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC, VIAC cũng đã tiên phong đưa ra quy định giới hạn trách nhiệm của hòa giải viên trong bối cảnh pháp luật về hòa giải thương mại Việt Nam hiện hành chưa có qui định. Cụ thể, {…} Hoà giải viên, {…} không chịu trách nhiệm trước các bên về bất kỳ hành động hoặc không hành động nào liên quan đến việc tiến hành hoà giải do hoà giải viên thực hiện trong quá trình hoà giải theo Quy tắc này trừ khi việc hành động hoặc không hành động đó vi phạm các điều cấm của luật.

6. Hòa giải
Với trường hợp hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải, Quy tắc 2026 về cơ bản kế thừa Quy tắc 2017. Điểm mới của Quy tắc 2026 nằm ở quy định Hội đồng trọng tài “điều hướng” vụ kiện trọng trọng tài chuyển sang vụ việc hòa giải. Khi đó, không phải hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải vụ tranh chấp mà hòa giải viên theo Quy tắc hòa giải VMC sẽ thực hiện công việc này theo thủ tục liên thông Trọng tài – Hòa giải của VIAC. Cụ thể, khoản 4 Điều 16 quy định: Tại cuộc họp quản lý vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài {…} có thể khuyến nghị các bên về khả năng hòa giải vụ tranh chấp, bao gồm thực hiện thủ tục hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC). Trước khi có quy định này trong Quy tắc 2026, VIAC đã hướng dẫn các hội đồng trọng tài giải quyết các vụ tranh chấp theo Quy tắc 2017 nên thực hiện việc khuyến khích nói trên nhưng kết quả rất khiêm tốn. Hy vọng rằng, với quy định minh thị trong Quy tắc 2026, số lượng vụ tranh chấp kết thúc bằng hòa giải thành tại VMC sẽ gia tăng trong thời gian tới./.

7. Quyền tiếp cận trực tiếp của Hội đồng trọng tài với các bên
Một trong những than phiền khá thường xuyên của các Hội đồng trọng tài tiến hành tố tụng theo Quy tắc 2017 và các phiên bản trước đó là các Hội đồng này chỉ có thể liên lạc với các bên tranh chấp thông qua ban thư ký và mỗi bên khi gửi tài liệu cho bên còn lại cũng thông qua ban thư ký. Trong một số trường hợp, nếu có sự chậm trễ hoặc thiếu sót trong việc nhận, gửi, chuyển phát tài liệu của ban thư ký, các thủ tục tố tụng sẽ bị ảnh hưởng chậm trễ theo. Điều này cũng trái với thực tiễn quốc tế về trọng tài, đó là các trọng tài viên luôn được trao đổi trực tiếp với các bên tranh chấp mà không thông qua bất kỳ trung gian nào. Quy tắc 2026 đã khắc phục điểm thiếu sót này. Cụ thể Điều 3 Quy tắc 2026 quy định:
“Theo quyết định của Hội đồng Trọng tài hoặc theo thỏa thuận của các bên, các thông báo, tài liệu có thể được một bên hoặc các bên gửi cho bên còn lại và đồng thời gửi cho Hội đồng Trọng tài và Trung tâm.”
Với quy định trên, các bên tranh chấp và Hội đồng Trọng tài luôn có thể giao tiếp trực tiếp với nhau theo thời gian thực. Đồng thời, ban thư ký VIAC vẫn có thể theo dõi và quản lý tố tụng trọng tài.

Kết luận
Tóm lại, Quy tắc 2026 đã có những điều chỉnh cập nhật quan trọng và rất tiến bộ giúp tăng cường hiệu quả tố tụng trọng tài, đưa các hoạt động tố tụng trọng tài tại Việt Nam trở nên tương thích hơn với thực tiễn quốc tế và khu vực. Các tác giả tin tưởng rằng, với những quy định tiến bộ này, hoạt động tố tụng trọng tài của VIAC sẽ càng phát triển hơn nữa và đem lại niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp và các luật sư, chuyên gia, các trọng tài viên tham gia quá trình giải quyết tranh chấp.